Trong
cái nhìn của người đời sau, Hoạn Thư hiện lên như là nhân vật tàn độc, xấu xa,
nham hiểm với những độc chiêu đánh ghen không ai dám nghĩ tới. Tên gọi Hoạn Thư
ngày nay đã vượt ra khỏi giới hạn một danh từ riêng, như là trở thành một “điển
tích” cho hạng phụ nữ ghen tuông đến mức mù quáng. Chúng tôi cho rằng, đó là
cái nhìn có phần ác cảm và phiến diện. Không phải ngẫu nhiên mà khi viết về
nhân vật này, “thái độ của Nguyễn Du đối
với Hoạn Thư cũng không đơn giản… Duy chỉ có Hoạn Thư là nhân vật phản diện duy
nhất Nguyễn Du không sử dụng bút pháp trào phúng” (Nguyễn Lộc, Văn
học Việt Nam (nửa cuối thế lỷ XVIII-hết thế kỷ XIX), tái bản lần thứ 5, Nxb Giáo Dục, H.,
2004, tr. 410). Ở một phương diện nào đó, Hoạn Thư cũng đáng thương hơn là đáng
trách, và nhân cách nhân vật này vẫn còn những “hạt ngọc lầm lũi” để ta trân
trọng.
HOẠN
THƯ-NGƯỜI PHỤ NỮ THÔNG MINH, BẢN LĨNH
Ai cũng phải thừa nhận, Hoạn Thư là
một người phụ nữ cực kì thông minh và có bản lĩnh. Ngay trong phần giới thiệu
nhân vật, sau khi trình bày gia cảnh quyền uy của Hoạn Thư (Vốn dòng họ Hoạn danh gia / Con quan Lại bộ
tên là Hoạn Thư), Nguyễn Du viết “Ở
ăn thì nết cũng hay / Nói điều ràng buộc thì tay cũng già”. Có thể nói, chỉ
với hai câu thơ này đủ nói lên ở họ Hoạn một con người có khả năng làm được
nhiều việc hơn người. Điều này sẽ được thể hiện rõ trong những lần hành sự của
Hoạn Thư sau này. Khác với các nhân vật phản diện kiểu như Mã Giám Sinh, Tú
Bà,… nhà thơ bộc lộ thái độ coi thường, khinh bỉ ngay ở lời giới thiệu (Mã thì Quá niên trạc ngoại tứ tuần / Mày râu nhẵn
nhụi áo quần bảnh bao, Tú thì Thoắt
trông nhờn nhợt màu da / Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao), Hoạn Thư được
Nguyễn Du giới thiệu bằng một thái độ có phần dè dặt hơn. Chính thái độ này nói
lên ở nhà thơ, ở một phương diện nào đó, là sự đánh giá cao nhân vật này.
Trong Truyện Kiều, có hai người
phụ nữ thuộc vào dạng “Thông minh vốn sẵn
tính trời” là nàng Kiều và Hoạn Thư. Trong truyện, chính Kiều là nạn nhân
bị Hoạn đày đọa “cho đau đớn, ê chề”
cũng phải hai lần thừa nhận Hoạn Thư “cao
tay” hơn mình một bậc. Lần thứ nhất là ở Quan Âm các, khi được hoa tỳ cho
biết Hoạn Thư : “đến đã lâu / Rón chân
đứng núp độ đâu nửa giờ / Rành rành kẻ tóc chân tơ / Mấy lời nghe hết đã dư tỏ
tường / Bao nhiêu nỗi khổ đoạn trường / Nỗi ông vật vã, nỗi nàng thở than /
Ngăn tôi đứng lại một bên / Chán tai rồi mới bước lên trên lầu”, Thúy Kiều
đã “kinh xiết”, “sởn gai rụng rời” và thừa nhận “Ấy
mới gan, ấy mới tài… Người đâu sâu sắc nước đời / Mà chàng Thúc phải ra người
bó tay”. Lần thứ hai, trong màn báo ân báo oán, Kiều lại khẳng định một lần
nữa : “Khen cho : ‘thật đã nên rằng /
Khôn ngoan tới mực nói năng phải lời’”. Trong hai hoàn cảnh khác nhau (bị
lệ thuộc và làm chủ), với đối tượng đã có sự thay đổi vị thế với mình (chủ nhân
rồi phạm nhân, kẻ thù gây ra đau khổ và kẻ bị mình xử án), Kiều đều phải thừa
nhận Hoạn Thư thông minh hơn người. Những lời này xuất phát từ sự tâm phục khẩu
phục của Kiều vốn thông minh, sâu sắc, đủ cho thấy Hoạn Thư tài giỏi, bản lĩnh
đến bực nào.
Thật vậy, trái với người chồng là Thúc
Sinh bản tính nhu nhược, nửa vời, trong mỗi việc làm của mình, Hoạn Thư đều tỏ
ra chín chắn, quyết đoán và nắm chắc phần thắng. Bằng cách riêng của mình, Hoạn
Thư biết cách “Làm cho trông thấy nhãn tiền
/ Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”. Nhất là với “tình địch”, họ Hoạn
biết cách “Làm cho đày đọa cất đầu chẳng
lên… Làm cho cho mệt cho mê / Làm cho đau đớn, ê chề cho coi”. Bằng sự
thông minh và bản lĩnh của người phụ nữ “sâu
sắc nước đời”, Hoạn Thư đứng ra một tay đạo diễn vở kịch trả thù tình yêu
tay ba vô cùng hoàn hảo đến nỗi Kiều vì quá kinh hãi mà bỏ trốn, còn Thúc Sinh
chỉ biết ngậm ngùi than thở “Thấp cơ thua
trí đàn bà” mà không thể làm gì được vợ. Trong màn Kiều đền ân trả oán, lúc
được giải đến, vừa nghe lời “chào thưa”
của Kiều, quả Hoạn Thư có phần sợ hãi (Hoạn
Thư hồn lạc phách xiêu). Nhưng rồi bằng những lời lẽ có tình, có lí của một
người đủ bản lĩnh, Thư đã “lội ngược dòng” một cách ngoạn mục, được Kiều “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”
cùng với lời khen không thể khác “Khôn
ngoan đến mực nói năng phải lời”.
Rõ ràng, khác với một Hoạn Thư trong Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm
Tài Nhân chỉ biết trả thù mù quáng để rồi nhận kết cục thảm hại trong màn Kiều
báo oán, Hoạn Thư trong Truyện Kiều ở một tầm cao hơn nhiều.
Nàng không hề bị sự ghen tuông làm cho mất lí trí như trong suy nghĩ của không
ít người. Trái lại, trong những tình huống quan trọng, Hoạn Thư biết làm chủ
được cảm xúc, giải quyết sự việc hết sức bình tĩnh, thấu tình đạt lí và đặc
biệt rất hiệu quả. Nếu trong kế hoạch trả thù Thúc Sinh, Hoạn Thư chiếm phần
chủ động thì trong màn báo ân báo oán, dù ở thế bị động, Thư vẫn có thể lật
ngược tình huống, làm chủ tình thế, tự cứu nguy cho mình mà không cần đến người
chồng vừa được đền ơn rất hậu đang ở cạnh bên mình. Một người phụ nữ khôn
ngoan, sắc sảo, bản lĩnh như vậy đâu dễ gặp, nhất là trong xã hội phong kiến,
người nữ luôn ở trong thế thụ động, bị coi thường. Đây là một trong những phẩm
chất đáng quý nơi Hoạn Thư, dù rằng hành động trả thù của nhân vật này có phần
nặng tay.
HOẠN
THƯ-NGƯỜI PHỤ NỮ BIẾT ĐẠO LÝ
Không chỉ thông minh và bản lĩnh, Hoạn
Thư còn làm được nhiều hơn như vậy. Trong Truyện Kiều, từ trước đến sau tiểu
thư họ Hoạn vẫn giữ đúng đạo lí làm vợ với chồng là Thúc Kỳ Tâm, dù Thúc là
người chồng phản bội. Đã có nhiều lần Thư đã kìm nén được cảm xúc để giữ tròn
đạo nghĩa phu thuê, dẫu rằng ở địa vị danh gia vọng tộc của mình, Hoạn Thư hoàn
toàn có quyền làm điều người lại, bởi lỗi vốn thuộc về Thúc Sinh.
Lần thứ nhất, khi có hai người đến
mách tin Thúc Sinh có lòng trăng gió để được tâng công (Tuần sau bỗng thấy hai người / Mách tin ý cũng liệu bài tâng công),
ngay lập tức, “Tiểu thư nổi giận đùng
đùng” quát mắng “Gớm tay thêu dệt, ra
lòng trêu ngươi / Chồng tao nào phải như ai / Điều này hẳn miệng dông dài thị
phi” và “Vội vàng xuống lệnh ra uy /
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng” hai kẻ đưa tin để “Trong ngoài kín mít như bưng / Nào ai còn dám nói năng một lời”.
Trong trường hợp bất ngờ này, không phải Hoạn Thư chưa hay biết điều gì (ngay
khi Hoạn Thư vừa xuất hiện trong truyện, tác giả đã cho nhân vật này biết hết
mọi sự tình, Từ nghe vườn mới thêm hoa /
Miệng đời đã lắm, tin nhà vắng không và cho biết nhân vật không thôi nghĩ
về việc chồng “đen bạc ra lòng trăng hoa”,
bằng chứng là trong nội tâm nhân vật có sự dằn xé rất lớn “Lửa tâm càng dập càng nồng”); mà là do tiểu thư họ Hoạn muốn giữ
thanh danh cho chồng và thể diện cho gia đình mình. Hoạn Thư là người thông
minh, nàng thừa biết rằng nếu chuyện vỡ lỡ ra, “Xấu chàng mà có ai khen chi mình”. Đành rằng, mục tiêu của Hoạn Thư
nằm đằng sau sự lặng im này là kế hoạch làm “cho người thăm ván bán thuyền biết tay”. Nhưng rõ ràng, Hoạn Thư đã
giữ đúng đạo lí một người làm vợ, điều này không phải người vợ nào cũng làm
được, nhất là với những người xuất thân quyền uy như Hoạn Thư “con quan Lại bộ”.
Lần khác, khi Thúc Sinh về thăm nhà,
vì không nghe lời dặn của Kiều trước lúc từ giã ở Lâm Tri và nghĩ rằng “Đà bưng kín miệng bình / Nào ai có khảo mà
mình lại xưng”, Thúc đã giấu vợ chuyện “vườn
mới thêm hoa” trong khi chính Hoạn Thư đã gợi ý bằng “những lời đâu đâu” bóng gió. Trong trường hợp này, Hoạn Thư có
quyền nổi giận vì người chồng bạc tình phản bội. Nhưng thay vì to tiếng, nàng
vẫn hết sức từ tốn, lễ độ : “Trong ngọc
đá vàng thau / Mười phần ta đã tin nhau cả mười / Khen cho những miệng dông dài
/ Bướm ong lại đặt những lời nọ kia / Thiếp mà vụng, chẳng biết suy / Đã dơ
bụng nghĩ, lại bia miệng cười”. Đây là những lời nhắc khéo, nhưng trong đó
ta vẫn thấy ở Hoạn Thư chút gì như là hi vọng chồng hồi tỉnh quay đầu. Từ đầu
đến cuối, trong mọi trường hợp Hoạn Thư đều chưa một lần có lời nào phạm thượng
đến chồng. Chính vì điều này phải Thúc một mặt phải thừa nhận mình “thấp cơ thua trí đàn bà” nhưng mặt khác
cũng không thể trách giận gì được vợ mình.
Đặc biệt, Hoạn Thư luôn ý thức sâu sắc
bổn phận làm vợ của mình. Chế độ phong kiến quy định nghiệt ngã “trai năm thê
bảy thiếp” nhưng phụ nữ lại phải “chính chuyên một chồng”, dù họ có thuộc gia
cấp thống trị đi nữa (trong lịch sử thời trung đại, đã từng có những bài hoàng
có nhiều đời chồng, hoang dâm vô độ, nhưng đó là các trường hợp cá biệt mà
thôi). Xuất thân trong gia đình quý tộc, được đào tạo bài bản, chắc chắn Hoạn
Thư biết rất rõ điều này. Khi nghe tin “vườn
mới thêm hoa”, tiểu thư họ Hoạn đã có có những suy nghĩ rất tích cực và
chín chắn “Ví chăng thú thật cùng ta /
Cũng dung kẻ dưới mới lạ lượng trên / Dại chi chẳng giữ lấy nền / Tốt chi mà
rước tiếng ghen vào mình”. Ở đây, Hoạn Thư sẵn sàng chấp nhận để Thúc Sinh
lấy Kiều làm thiếp với điều kiện chồng mình biết thật lòng thú nhận việc mình
trót lỡ gây ra. Tiếc thay, họ Thúc không hiểu được điều này. Đây chính là
nguyên nhân quan trọng để Hoạn Thư nổi giận và lên kế hoạch trả thủ “Làm cho nhìn chẳng được nhau / Làm cho đày
đọa cất đầu chẳng lên / Làm cho trông thấy nhãn tiền / Cho người thăm ván bán
thuyền biết tay”.
Trong địa vị của Hoạn Thư, nàng đủ khả
năng làm điều ngược lại, tức là không nhất thiết phải giữ trọn vẹn đạo lí vợ
chồng, bởi như đã nói, lỗi thuộc về Thúc Sinh là người phản bội. Ta nên nhớ họ
Hoạn là con nhà đại quan quyền uy, từ đầu đến cuối Thúc Sinh vẫn hãi trước uy
quyền này. Mặt khác, Thúc là người ở bên ngoài “quen thói bốc rời”, có thể “trăm
nghìn đổ một trận cười như không” nhưng khi về nhà lại rất sợ vợ, chưa bao
giờ họ Thúc thoát ra được khỏi ám ảnh này. Việc cấm chồng lập thiếp, thậm chí
cấm chồng không được ra khỏi nhà là điều nàng hoàn toàn có thể làm được. Thế
nhưng Hoạn Thư vẫn làm đúng đạo lí một người làm vợ trong xã hội phong kiến
phương Đông. Không phải ai trong vị thể của Hoạn Thư cũng có thể làm được như
vậy. Rõ ràng, Hoạn Thư ở một tầm cao hơn so với Hoạn Thư trong suy nghĩ của
nhiều người. Trong Truyện Kiều không hề có nàng Hoạn Thư ghen tuông mù quáng, chỉ
có một Hoạn Thư cao tay trả thù một cách tàn nhẫn bởi nguyên nhân sâu xa là mâu
thuẫn giữa một bên là ý thức giữ tròn đạo lí phu thê với một bên là hiện thực
người chồng phản bội, dối trá, thất vọng. Trong trường hợp này, chúng tôi cho
rằng, Hoạn Thư đáng phục hơn là đáng ghét, đáng thương hơn là đáng trách, và dĩ
nhiên, đau khổ hơn hả hê.
HOẠN
THƯ-NGƯỜI PHỤ NỮ BIẾT THƯƠNG TÀI
Hoạn Thư không chỉ biết ghen tuông và
trả thù như ấn tượng về nàng trong suy nghĩ của nhiều người. Hoạn còn biết hi vọng,
rồi thất vọng, biết khổ đau. Với người khác, đâu phải nàng chỉ biết hằn học thù
hèm, ở Hoạn Thư còn có sự mến tài, thương tài.
Khi Kiều được phu nhân (mẹ Hoạn Thư) “cho về bên ấy theo đòi lầu trang” để “sớm khuya khăn mặt, lược đầu” hầu hạ
Hoạn Thư, nhân “phải đêm êm ả chiều trời”,
tiểu thư họ Hoạn “trúc tơ hỏi đến nghề
chơi mọi ngày”. Sau khi nghe những cung đàn “nỉ non thánh thót dễ say lòng người” nơi Kiều, Nguyễn Du viết về
Hoạn Thư như sau : “Tiểu thư xem cũng
thương tài / Khôn uy dường cũng bớt vài bốn phân”. Duy chỉ một lần bị đánh
đập “trúc côn ra sức đập vào” ở phủ
phu nhân, còn từ khi về dinh tiểu thư làm “phận
con hầu”, Kiều không hề bị hành hạ về thể xác nữa. Rõ ràng, thái độ của
Hoạn Thư đối với Kiều đã có sự thay đổi so với lúc chưa gặp Kiều.
Lần khác, Hoạn Thư bắt Thúc Sinh “Cậy chàng tra lấy thực tình cho nao” về Kiều. Khi Kiều “thân cung nàng mới dâng qua một tờ” về
cuộc đời lênh đênh chìm nổi của mình để “diện
tiền trình với tiểu thơ”, Nguyễn Du đã miêu tả rất hay diễn biến tâm trạng
thoáng hiện lên ở Hoạn Thư như sau : “Thoắt
xem, dường có ngẩn ngơ chút tình”. Rõ ràng, Hoạn Thư không phải là người gỗ
đá, trong tận sâu tâm khảm của một người phụ nữ vốn cũng có nhiều khổ đau, Hoạn
Thư cũng ít nhiều cảm thông, đồng cảm với Kiều. Đây là lí do để ngay sau đó,
nàng lên tiếng : “Tài nên trọng mà tình
nên thương / Ví chăng có số giàu sang / Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên
/ Bể trần chìm nổi thuyền quyên / Hữu
tài, thương nỗi vô duyên lạ đời”. Ta chú ý điển tích “nhà vàng”. Xưa Hán Vũ Đế khen nàng Át Kiều xinh đẹp rằng nếu sau
này lấy được Át Kiều thì sẽ xây nhà bằng vàng ròng cho nàng ở (xem phần chú
thích tr. 131 trong Truyện Kiều, Vũ Hữu Tiềm bình giải, chú thích và minh họa, Nxb
Thanh Niên, 2008). Hoạn Thư dùng điển này, ý muốn nói, với tài và sắc ấy, Kiều
xứng đáng được ở nhà vàng. Bởi chính Hoạn Thư cũng đã thừa nhận Kiều là kẻ “hữu tài”.
Trong Truyện Kiều, nhiều người biết tài,
khen tài Thúy Kiều trong đó có Hoạn Thư. Nhưng tiểu thơ họ Hoạn lại là người
đặc biệt hơn cả. Nếu như Kim, Thúc, Từ mến tài nàng Kiều họ Vương vì yêu
thương, ngưỡng mộ; Mã Giám Sinh, Tú Bà càng biết tài của Kiều vì đó là cả một
món lợi lộc có thể trao qua, bán lại để làm thỏa mãn “máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê” của “phường bán thịt”, “quân buôn
người”; Giác Duyên, Tam Hợp đạo cô biết tài Kiều ở vị thế ngoài cuộc trong
sự chiêm nghiệm về quan hệ tài mệnh tương đố “tài tình chi lắm cho trời đất ghen” thì Hoạn Thư là hoàn toàn khác.
Trước hết, Thư mến tài Kiều là kẻ tình địch của mình, đây là điều hiếm khi xảy
ra. Nhưng quan trọng hơn, dù ở địa vị cao sang quyền quý, Hoạn Thư vẫn tỏ ra ít
nhiều cảm thông, thấu hiểu nỗi đau của số kiếp người phụ nữ trong xã hội ngày
trước, trong đó có nàng. Thư quý tài Kiều bằng tấm lòng đồng cảm, xót thương.
Bởi xét cho cùng, Thư cũng là một người phụ nữ khổ đau, không hơn không kém.
HOẠN
THƯ-NGƯỜI PHỤ NỮ KHỔ ĐAU
Trong Truyện Kiều, có ít nhất
ba người phụ nữ đau khổ là Kiều, Vân và Thư. Nếu Kiều đau đớn bởi tình đầu tan
vỡ, số phần hồng nhan bạc mệnh chìm nổi truân chuyên, phải rơi vào bi kịch càng
ý thức sâu sắc về quyền sống, về danh dự thì càng bị nhấn chìm xuống vũng bùn
nhơ nhớp khổ đau để rồi chỉ có biết phó mặc cho số phận “Cũng đành nhắm mắt đưa chân / Để xem con tạo xoay vần đến đâu” thì
Hoạn Thư và Thúy Vân có những nỗi đau tương đồng về một chí tuyến khác. Đó là
nỗi đau hôn nhân không tình yêu, dù rằng cuộc đời êm ấm, và nhất là với Thư,
nỗi đau của bi kịch bị phản bội niềm tin.
Trong Truyện Kiều, cũng như
nhân vật người em Thúy Vân, Hoạn Thư không hề có được một cuộc sống hôn nhân
như ý muốn, dù nàng xứng đáng với điều đó (con nhà quyền quý, lại thông minh,
biết đạo lí). Nguyễn Du không hề nhắc gì đến chuyện tình cảm của Thúc Sinh đối
với vợ mình, nếu có thì cũng trong tương quan với người tình mới : “Tin nhà ngày một vắng tin / Nặng tình cát
lũy, lạt tình tào khang”. Thúc Sinh bản tính ăn chơi bốc rời, lại là con
nhà buôn vì theo cha đi làm ăn ở xa (Theo
nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri) nên ít khi ở nhà. Ngay cả trong những
thời gian ít ỏi bên vợ, họ Thúc cũng không thoát ra được cái bóng sợ vợ ám ảnh
mình từ đầu đến cuối thì thử hỏi làm sao vợ chồng có tình cảm được. Thúy Vân
đau khổ vì mười lăm năm sống cạnh người chồng hờ Kim Trọng nhưng ít ra vẫn hạnh
phúc hơn Hoạn Thư vì dù sao Vân cũng được gần gũi bên chồng, có con cái đề huề.
Còn tiểu thư họ Hoạn, đến những hạnh phúc sơ đẵng, tối thiểu nhất của một người
phụ nữ là được làm vợ, làm mẹ cũng không có. Tác giả không hề nói gì về đời tư
của Hoạn Thư, bề ngoài có vẻ mạnh mẽ bản lĩnh của nàng đủ che giấu được những những
điều thầm kín trong lòng. Nhưng ta thấm thía được nỗi đau quá lớn nơi Hoạn Thư.
Phải chăng vì điều này mà hai kẻ “tình địch” không đội trời chung Thư-Kiều dễ
dàng tha thứ cho nhau (lúc Kiều bỏ trốn, Hoạn Thư thừa biết nhưng “khỏi cửa dứt tình chẳng theo” và ngược
lại, trong màn báo oán, chỉ sau vài câu nói của Hoạn Thư, Kiều đã “truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”)
?
Nếu như Kiều có một may mắn rất lớn
trong đời là được ba người yêu mình hết mực, ai cũng có thể vì mình mà làm tất
cả thì Hoạn Thư cả một người yêu thật lòng cũng không có. Hoạn Thư chỉ có một
người chồng nhưng đó lại là người chồng phản bội. Trong nghĩa vợ chồng “ngọc đá vàng thau”, nàng tin tưởng chồng
mình tuyệt đối “mười phần ta đã tin nhau
cả mười” thì họ Thúc đã không làm được như vợ mình mong đợi. Thậm chí cả
khi “Tiểu thư lại giở những lời đâu đâu”
ngầm ám chỉ sự việc đã được phát hiện, Thúc Sinh quá hời hợt đến độ không biết
gì để rồi không nghe lời Kiều là thú nhận cùng chính thất chuyện đã trót rồi.
Rõ ràng, trước khi lên kế hoạch trả thù, Hoạn Thư đã cho Thúc Sinh một cơ hội,
thậm chí nếu Thúc làm như Kiều dặn, với những suy nghĩ chín chắn trước đó của
Hoạn Thư, mọi chuyện đã tốt đẹp hơn nhiều. Hoạn Thư là hiện thân của nỗi đau niềm tin bị phản bội, của người
chọn nhầm mặt gửi vàng.
Trong màn báo oán, không phải ngẫu
nhiên mà Hoạn Thư được tha bổng một cách bất ngờ. Có được điều này, bởi trước
hết Hoạn Thư biết “rào trước đón sau, tình riêng lí chung, tội mình lượng
người… đủ sức tự cứu mình trong tình huống căng thẳng”. “Nhưng căn bản nhất vẫn
là do tấm lòng nhân hậu của Thúy Kiều. Con người chịu khổ đau là con người thấu
hiểu nỗi khổ đau của người khác”, (Đặng Thanh Lê, Giảng văn Truyện Kiều, tái bản lần thứ 7, Nxb Giáo dục, H.,
2009, tr. 102 và tr. 103), giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư có cùng chung những tiếng
nói về nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội xưa. Chính Kiều là nhiều lần thừa
nhận Hoạn Thư là người có tài và bản lĩnh. Vậy tại sao ta lại nhìn nhận nhân
vật đáng trách, đáng giận nhưng cũng rất đáng trọng, đáng phục, đáng thương này
bằng cái nhìn quá ác cảm, hẹp hòi…
Quy Nhơn, ngày 13/3/2014
PHẠM TUẤN
VŨ
Bài đã đăng trên
Báo Giáo Dục và Thời Đại
Bài đã đăng trên
Báo Giáo Dục và Thời Đại

rất hay
Trả lờiXóaCảm ơn Christine AHL đã có lời động viên,
Trả lờiXóaChúc sức khỏe và thành công ạ,
PTV.